Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương Mại Điện Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương Mại Điện Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Secure Socket Layer (SSL) là gì?

SSL là giao thức đa mục đích được thiết kế để tạo ra các giao tiếp giữa hai chương trình ứng dụng trên một cổng định trước (socket 443) nhằm mã hoá toàn bộ thông tin đi/đến, mà ngày nay được sử dụng rộng rãi cho giao dịch điện tử như truyền số hiệu thẻ tín dụng, mật khẩu, số bí mật cá nhân (PIN) trên Internet.

Giao thức SSL được hình thành và phát triển đầu tiên năm 1994 bởi nhóm nghiên cứu Netscape dẫn dắt bởi Elgammal và ngày nay đã trở thành chuẩn bảo mật thực hành trên mạng Internet. Phiên bản SSL hiện nay là 3.0 và vẫn đang tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Tương tự như SSL, một giao thức khác có tên là PCT - Private Communication Technology được đề xướng bởi Microsoft hiện nay cũng được sử dụng rộng rãi trong các mạng máy tính chạy trên hệ điều hành Windows NT. Ngoài ra, một chuẩn của IETF (Internet Engineering Task Force) có tên là TLS (Transport Layer Security) dựa trên SSL cũng được hình thành và xuất bản dưới khuôn khổ nghiên cứu của IETF Internet Draft được tích hợp và hỗ trợ trong sản phẩm của Netscape.

Giao thức SSL làm việc như thế nào?

Điểm cơ bản của SSL được thiết kế độc lập với tầng ứng dụng để đảm bảo tính bí mật, an toàn và chống giả mạo luồng thông tin qua Internet giữa hai ứng dụng bất kỳ, thí dụ như webserver và các trình duyệt khách (browsers), do đó được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng khác nhau trên môi trường Internet. Toàn bộ cơ chế hoạt động và hệ thống thuật toán mã hoá sử dụng trong SSL được phổ biến công khai, trừ khoá chia xẻ tạm thời (session key) được sinh ra tại thời điểm trao đổi giữa hai ứng dụng là tạo ngẫu nhiên và bí mật đối với người quan sát trên mạng máy tính. Ngoài ra, giao thức SSL còn đỏi hỏi ứng dụng chủ phải được chứng thực bởi một đối tượng lớp thứ ba (CA) thông qua giấy chứng thực điện tử (digital certificate) dựa trên mật mã công khai (thí dụ RSA). Sau đây ta xem xét một cách khái quát cơ chế hoạt động của SSL để phân tích cấp độ an toàn của nó và các khả năng áp dụng trong các ứng dụng nhạy cảm, đặc biệt là các ứng dụng về thương mại và thanh toán điện tử...

Giao thức SSL dựa trên hai nhóm con giao thức là giao thức “bắt tay” (handshake protocol) và giao thức “bản ghi” (record protocol). Giao thức bắt tay xác định các tham số giao dịch giữa hai đối tượng có nhu cầu trao đổi thông tin hoặc dữ liệu, còn giao thức bản ghi xác định khuôn dạng cho tiến hành mã hoá và truyền tin hai chiều giữa hai đối tượng đó. Khi hai ứng dụng máy tính, thí dụ giữa một trình duyệt web và máy chủ web, làm việc với nhau, máy chủ và máy khách sẽ trao đổi “lời chào” (hellos) dưới dạng các thông điệp cho nhau với xuất phát đầu tiên chủ động từ máy chủ, đồng thời xác định các chuẩn về thuật toán mã hoá và nén số liệu có thể được áp dụng giữa hai ứng dụng. Ngoài ra, các ứng dụng còn trao đổi “số nhận dạng/khoá theo phiên” (session ID, session key) duy nhất cho lần làm việc đó. Sau đó ứng dụng khách (trình duyệt) yêu cầu có chứng thực điện tử (digital certificate) xác thực của ứng dụng chủ (web server).

Chứng thực điện tử thường được xác nhận rộng rãi bởi một cơ quan trung gian (là CA -Certificate Authority) như RSA Data Sercurity hay VeriSign Inc., một dạng tổ chức độc lập, trung lập và có uy tín. Các tổ chức này cung cấp dịch vụ “xác nhận” số nhận dạng của một công ty và phát hành chứng chỉ duy nhất cho công ty đó như là bằng chứng nhận dạng (identity) cho các giao dịch trên mạng, ở đây là các máy chủ webserver.

Sau khi kiểm tra chứng chỉ điện tử của máy chủ (sử dụng thuật toán mật mã công khai, như RSA tại trình máy trạm), ứng dụng máy trạm sử dụng các thông tin trong chứng chỉ điện tử để mã hoá thông điệp gửi lại máy chủ mà chỉ có máy chủ đó có thể giải mã. Trên cơ sở đó, hai ứng dụng trao đổi khoá chính (master key) - khoá bí mật hay khoá đối xứng - để làm cơ sở cho việc mã hoá luồng thông tin/dữ liệu qua lại giữa hai ứng dụng chủ khách. Toàn bộ cấp độ bảo mật và an toàn của thông tin/dữ liệu phụ thuộc vào một số tham số: (i) số nhận dạng theo phiên làm việc ngẫu nhiên; (ii) cấp độ bảo mật của các thuật toán bảo mật áp dụng cho SSL; và (iii) độ dài của khoá chính (key length) sử dụng cho lược đồ mã hoá thông tin.

Các thuật toán mã hoá và xác thực của SSL được sử dụng bao gồm (phiên bản 3.0):

1.DES - chuẩn mã hoá dữ liệu (ra đời năm 1977), phát minh và sử dụng của chính phủ Mỹ
2.DSA - thuật toán chữ ký điện tử, chuẩn xác thực điện tử), phát minh và sử dụng của chính phủ Mỹ
3.KEA - thuật toán trao đổi khoá), phát minh và sử dụng của chính phủ Mỹ
4.MD5 - thuật toán tạo giá trị “băm” (message digest), phát minh bởi Rivest;
5.RC2, RC4 - mã hoá Rivest, phát triển bởi công ty RSA Data Security;
6.RSA - thuật toán khoá công khai, cho mã hoá va xác thực, phát triển bởi Rivest, Shamir và Adleman;
7.RSA key exchange - thuật toán trao đổi khoá cho SSL dựa trên thuật toán RSA;
8.SHA-1 - thuật toán hàm băm an toàn, phát triển và sử dụng bởi chính phủ Mỹ
9.SKIPJACK - thuật toán khoá đối xứng phân loại được thực hiện trong phần cứng Fortezza, sử dụng bởi chính phủ Mỹ
10.Triple-DES - mã hoá DES ba lần.

Cơ sở lý thuyết và cơ chế hoạt động của các thuật toán sử dụng về bảo mật bên trên hiện nay là phổ biến rộng rãi và công khai, trừ các giải pháp thực hiện trong ứng dụng thực hành vào trong các sản phẩm bảo mật (phần cứng, phần dẻo, phần mềm).

Nguồn : Chungta.com
Read more...

Một số thuật ngữ về thanh toán thẻ

Dưới đây là một số thuật ngữ thường gặp liên quan đến các quá trình giao dịch kinh doanh bằng thẻ nhằm giúp bạn đọc hiểu một cách cụ thể hơn về lĩnh vực này.


Account Number - Số tài khoản: Mỗi một tài khoản được quy định một số riêng để xác định loại thẻ, người giữ thẻ hay cơ quan tài chính…

ACH (Automated Clearing House) – Hệ thống thanh toán tự động: Hệ thống thanh toán tự động là nơi để chuyển tiền gửi cho tài khoản cá nhân và chuyển giao thanh toán giữa các cơ quan thương mại.

Acquirer or Acquiring Bank: Còn được biết đến là ngân hàng thương nhân (Merchant Bank). Đây là ngân hàng với tư cách như là một thể chế hay một tổ chức có mối quan hệ kinh doanh với các thương gia mà họ chấp nhận thanh toán hàng hóa và dịch vụ bằng thẻ tín dụng. Acquirer Bank xử lý các quá trình giao dịch của thương nhân và thanh toán vào tài khoản của họ.

Authorization – Sự uỷ quyền: Quá trình mà một công ty phát hành thẻ cho phép thực hiện một giao dịch. Quá trình này xác nhận hạn mức của thẻ tín dụng và giữ lại một khoản tín dụng nhất định nào đó. Có thể thực hiện các uỷ quyền trên Internet, bằng điện thoại hoặc tại các điểm bán hàng.

Batch – Một nhóm các giao dịch bằng thẻ đang chờ cơ quan tài chính của thương nhân xử lý: Các giao dịch này được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn, thông thường là trong vòng một ngày.

Batch Close: là quá trình đưa một nhóm giao dịch bằng thẻ đến cơ quan tài chính để xử lý.

Charge cards – Thẻ mua chịu: Các cửa hàng bách hóa phát hành thẻ mua chịu đầu tiên. Vào năm 1951, Diners Club là thẻ mua chịu đầu tiên được sử dụng chủ yếu ở các nhà hàng. Vào năm 1957, thẻ mua chịu có tên là American Express ra đời và tiếp đến là Discover Card. Các công ty tự phát hành thẻ và đồng thời đóng vai trò là cơ quan có thẩm quyền. Thẻ mua chịu không có hạn mức chi tiêu ấn định trước nhưng được thanh toán đầy đủ vào cuối mỗi tháng.

Cheque card – Thẻ chi phiếu: Do ngân hàng cấp cho người có tài khoản. Nó bảo đảm ngân hàng sẽ trả các chi phiếu mà người có tài khoản đã ký tới một giới hạn đã ghi trong thẻ.

Credit line: nghĩa là số tiền của tín dụng có sẵn cho một khách hàng từ người cho vay.

Digital Certificate – Chứng chỉ số hoá: Đó là sự chứng nhận trên mạng để biết đích xác bạn là khách hàng, là thương nhân hay một cơ quan tài chính. Chứng chỉ số hoá được sử dụng trong suốt quá trình giao dịch SET (Secure Electronic Transaction - giao dịch điện tử an toàn).

Discount rate – Tỷ lệ chiết khấu: Chính là phí thanh toán liên quan tới tài khoản chấp nhận thẻ tín dụng của bạn. Nó là phần trăm trên tổng doanh số.

EDI (Electronic Data Interchange) - Trao đổi dữ liệu điện tử: Là một công cụ thiết yếu trong các giao dịch doanh nghiệp tới doanh nghiệp hay B2B qua Internet. EDI là một bộ các tiêu chuẩn được phát triển vào những năm 1980 chuyên dùng để xử lý các giao dịch kinh doanh điện tử. EDI được sử dụng để thay thế mọi thứ giấy tờ mà doanh nghiệp tạo ra trước đây như vận đơn, đơn đặt hàng, thậm chí cả séc. Nó đề ra các phương pháp để xác minh các công ty đã gửi vận đơn, để chứng minh việc giao hàng và để tiến hành thanh toán.

Electronic Wallet – Ví tiền điện tử: Là phần mềm cho phép những người dùng thẻ tiến hành các giao dịch trực tuyến, quản lý hoá đơn thanh toán và lưu giữ các chứng chỉ số hoá.

Internet: Một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông giữ liệu như truyền các tệp tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin.

InterWorld Catalog: Cho phép các công ty thiết lập các catalog hàng hóa trực tuyến có khả năng tìm kiếm, tạo các trang web động, cùng khả năng quản trị trực quan nhờ giao diện đồ hoạ.

InterWord Customer Service: Đây là dịch vụ hỗ trợ khách hàng trên Internet.

InterWorld Digital Distribution: Cung cấp khả năng phân phối an toàn các sản phẩm số hoá như phần mềm, các tư liệu điện tử.

InterWorld Auction: Cho phép các công ty xây dựng các hệ thống bán đấu giá trực tuyến.

PGP (Pretty Good Privacy) - Cơ chế bảo mật PGP: Có một hệ thống mã hóa bảo mật khác hoạt động trên Internet được gọi là PGP (Pretty Good Privacy - Bảo đảm tốt đẹp tính riêng tư) được sáng tạo bởi kỹ sư phần mềm là Phil Zimmerman vào năm 1991, người đã dùng các công cụ này để mã hoá các thông điệp điện tử của mình và bạn bè. PGP dùng để mã hoá thư điện tử và các tệp mà bạn muốn truyền đi.

Payment gateway: Là một chương trình phần mềm. Phần mềm này sẽ chuyển dữ liệu của các giao dịch từ website của người bán sang người nhận thẻ tín dụng để hợp thức hóa cũng như thanh toán thẻ tín dụng.

SET (Secure Electronic Transaction) - Giao dịch điện tử an toàn: Tiêu chuẩn bảo mật mới nhất trong thương mại điện tử là SET, được phát triển bởi một tập đoàn các công ty thẻ tín dụng lớn như Visa, MasterCard và American Express cũng như các ngân hàng, các công ty buôn bán trên mạng và các hãng thương mại khác nhằm làm tăng khả năng an toàn cho các giao dịch trên Internet.
SET đặt các mật mã riêng vào tay của cả người mua lẫn người bán trong một giao dịch. Điều này có nghĩa là một người dùng bình thường cần các mật mã riêng của riêng họ và cần phải đăng ký các mật mã này, hệt như các máy chủ phải làm. Khi một giao dịch SET được xác nhận uỷ quyền, mật mã riêng của người dùng sẽ có chức năng như một chữ ký số. Thực tế nó giống như là việc ký vào phiếu thanh toán trong nhà hàng. Chữ ký số chứng tỏ bạn đã ăn theo thực đơn và chấp nhận hoá đơn. Hiện tại có rất nhiều nhà xử lý thanh toán, các ngân hàng, các nhà phát hành thẻ, cũng như các nhà buôn chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Vì vậy SET có nghĩa là mỗi người trong guồng máy đó đều cần một chứng chỉ.

Các mạng xử lý thẻ tín dụng ngày nay hỗ trợ số hiệu bốn chữ số cho các ngân hàng, bốn chữ số cho các thương nhân và mười hai chữ số cho thẻ tín dụng. Để xử lý SET, mỗi số hiệu này đều phải kèm theo một chữ ký số được cấp riêng để chứng tỏ tư cách của nó, còn các mạng xử lý thẻ tín dụng phải xử lý tất cả các chữ số này.

SSL (Secure Sockets Layer) - Cơ chế bảo mật SSL: Để đảm bảo rằng khách hàng của bạn được bảo vệ khi họ nhập thông tin thẻ tín dụng vào trang bán hàng của bạn, payment gateway sẽ sử dụng SSL để bảo vệ các thông tin cá nhân bao gồm cả số thẻ tín dụng khi chuyển sang payment gateway. Nếu máy phục vụ của bạn không hỗ trợ SSL thì trang bán hàng của bạn sẽ do máy phục vụ của nhà cung cấp payment gateway quản lý mà không mất thêm chi phí nào.

Transaction – Giao dịch: Cho phép các doanh nghiệp khách hàng điều chỉnh các giao dịch tài chính trực tuyến, với các khả năng bảo mật, tiếp nhận các đơn đặt hàng nhiều mức, quản lý và định hướng các giao dịch.

Sưu tầm
Read more...

Trang web của bạn: Người bán hàng tốt nhất

Trang web là một trong những công cụ bán hàng xuất sắc nhất mà một doanh nghiệp có thể có

Mọi người đều đồng ý rằng trang web là một trong những công cụ bán hàng xuất sắc nhất mà một doanh nghiệp có thể có. Song ít có ai khẳng định trang web như một nhân viên bán hàng xuất sắc. Nắm bắt điều này và các doanh nghiệp sẽ thấy được nhiều kết quả khác biệt với công việc kinh doanh của mình.

Nếu nhìn nhận trang web của mình như một nhân viên bán hàng, doanh nghiệp sẽ bắt đầu nghĩ về nó với nhiều yếu tố khác biệt hơn là một công cụ đánh bóng sản phẩm, dịch vụ đơn thuần.

Doanh nghiệp bạn thậm chí muốn trang web được thiết kế tốt hơn, không khác gì mong muốn có được những nhân viên bán hàng hình thức bề ngoài lôi cuốn cho doanh nghiệp.

Việc chuyển trang web của doanh nghiệp thành một nhân viên bán hàng sẽ cần sử dụng những đặc điểm trực tuyến. Để giúp thực hiện nhiệm vụ này, hãng tư vấn quãng cảo Local Nasion đặt ra bốn câu hỏi:

1. Trang web của doanh nghiệp có biết mọi thứ về hoạt động kinh doanh của mình như một nhân viên thực thụ?

2. Doanh nghiệp có đánh giá thành công của trang web (hàng ngày, hàng tuần, hàng quý, hàng tháng hay thường niên)?

3. Doanh nghiệp có "đào tạo" trang web của mình về những vấn đề kinh doanh cơ bản, những xu hướng mới hay những thay đổi kinh tế trong thị trường hoặc môi trường kinh doanh quốc gia cho ngành công nghiệp của doanh nghiệp?

4. Trang web của doanh nghiệp có tất cả các sản phẩm, dịch vụ hiện hành cũng như các yếu tố giá cả?

Doanh nghiệp bạn sẽ không bao giờ gửi một nhân viên bán hàng tới tiếp xúc một khách hàng triển vọng nên không chắc chắn rằng nhân viên đó có tất cả các thông tin cần thiết. Vì vậy, một trang web khi được mong đợi là một nhân viên khách hàng cũng cần có đầy đủ các thông tin cần thiết.

Ví dụ, nếu doanh nghiệp đang bán dòng sản phẩm túi xách tay và khăn quàng cổ phụ nữ, nhân viên bán hàng sẽ cần miêu tả được cho khách hàng về loại vải

một bạn sẽ cần miêu tả được chất lượng vải và cho khách hàng thấy túi xách từ tất cả các góc độ, nói rõ loại nào giặt được bằng máy, loại nào thì không. Quy trình tương tự cần được áp dụng vào trang web của doanh nghiệp.

Các nhân viên bán hàng cũng từ đào tạo họ về các khách hàng, họ dành nhiều thời gian để lắng nghe các nhu cầu và mối quan tâm của khách hàng trước khi bán sản phẩm hay dịch vụ. Từ đó, trang web của doanh nghiệp cần có tính năng thu thập ý kiến, mối quan tâm của khách hàng với những nhiệm vụ tương tự.

Trong khi xây dựng trang web của mình, các doanh nghiệp hãy quan tâm tới suy nghĩ của khách hàng. Chuẩn bị sẵn sàng cho việc cập nhập trang web của doanh nghiệp với mọi thay đổi, bổ sung cho phù hợp từng đối tượng khách hàng.

Ví dụ, nếu khách hàng của doanh nghiệp là những người lớn tuổi, chắc hẳn không thích hợp với nội dung được thể hiện trong phông chữ nhỏ (rất khó để người lớn tuổi có thể đọc) và cách bố trí phức tạp (những gì mà người trẻ có thể thích thú).

Trong cuốn sách "10 điều phải có với một website", chủ hãng tư vấn web trực tuyến of Smallbiztechnology.com, Ramon Ray cho rằng một trang web cần phải được thiết kế thích hợp với đặc điểm kinh doanh nhằm giúp đỡ doanh nghiệp bạn đảm bảo rằng "nhân viên bán hàng" quan trọng nhất này của bạn có đủ các kỹ năng để lôi cuốn được khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ.

Theo cách tương tự, doanh nghiệp sẽ mong đợi các nhân viên bán hàng của mình có được những kỹ năng mới và các công ty bán hàng mới từ năm này qua năm khác. Những mong đợi này cần đúng với trang web của doanh nghiệp nữa.

Các nhân viên bán hàng trong thập niên 80 của thế kỷ trước có thể phải mang cách túi đựng những mẫu sản phẩm khi tiếp xúc khách hàng, còn ngày nay họ sẽ mang theo chiếc laptop và cung cấp cho các khách hàng đĩa DVD chưa đầy đủ hình ảnh các sản phẩm mẫu.

Đây là lợi thế của trang web khi khách hàng có thấy ngay được hình ảnh của những sản phẩm mẫu. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần chú ý tính đa dạng về mặt hình ảnh của những sản phẩm này trên trang web.

Doanh nghiệp bạn thậm chí có thể quan tâm tới bổ sung một avatar (hình ảnh đại diện mang dáng người) vào trang web để tăng thêm "yếu tố con người". Avatar có thể chào mừng khách hàng, hỏi các câu hỏi và hướng khách hàng tới những nơi của trang web mà họ có thể quan tâm tới. SitePal là một trang web chuyên cung cấp công nghệ kiểu này.

Việc áp dụng cho trang web nhiều công nghệ thông minh giúp "nhân viên bán hàng" này biệt được khi nào khách hàng vào trang web và những nơi nào họ ghé thăm hoàn toàn có thể đem lại những lợi ích rõ . Trang Genius.com cung cấp các bộ công cụ bán hàng thông minh để bổ sung cho trang web của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp bạn không thể bỏ qua những phương thức giao tiếp tới khách hàng, bảo đảm các khách hàng có thể giao tiếp với doanh nghiệp cũng như giao tiếp với các khách hàng khác. Đây chính là đặc tính quan trọng của Web 2.0.

Và một blog là cách thức tốt nhất để bắt đầu việc này. Những nơi như Word Press, Movable Type, Type Pad và Blogger là các lựa chọn để khởi động hoạt động tiếp thị và bán hàng qua một blog.

Hãy nhớ rằng, trang web hoàn toàn có thể là một trong những tài sản bán hàng tốt nhất mà các doanh nghiệp có được, nếu không muốn nói là tốt nhất. Khi được nuôi dưỡng và chăm sóc cẩn thận, trang web sẽ giúp thúc đẩy doanh số bán hàng và tăng trưởng kinh doanh, không kém phần một nhân viên bán hàng tài năng.

Read more...

Việt Nam với Thương Mại Điện Tử

Cơ Hội mới cho nền kinh tế Việt Nam

Từ vài năm trở lại đây, khái niệm Thương mại điện tử được thỉnh thoảng nhắc đến trên báo, đài, các cuộc họp của Chính phủ, Thành phố... Người dân cũng vì thế mà “loáng thoáng” nghe qua về Thương mại điện tử, tuy nhiên, phần lớn người dân và doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Việt Nam vẫn chưa thực sự hiểu rõ về Thương mại điện tử và đặc biệt là lợi ích Thương mại điện tử có thể mang lại cho DNVVN, cho người dân, cho nền kinh tế và cho xã hội Việt Nam. Bài viết này xin được mạo muội nêu ra một vài lợi ích chung nhất mà Thương mại điện tử có thể mang lại cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam nói chung và cho từng cá nhân, từng DNVVN Việt Nam nói riêng. Nhưng trước hết, xin được phép giải thích đôi điều về Thương mại điện tử.

Thương mại điện tử có thể được hiểu theo nhiều cách, có quan niệm cho rằng phải có thanh toán qua mạng mới là Thương mại điện tử, phải có đầy đủ các hoạt động kinh doanh được thực hiện qua mạng (quản lý dữ liệu khách hàng, quản lý và xử lý đơn hàng, thanh toán qua mạng, chữ ký điện tử...) thì mới được gọi là Thương mại điện tử... Nhưng như thế thì khái niệm Thương mại điện tử này còn khá xa vời với tình hình chung ở Việt Nam hiện nay, vì thế, xin được hiểu trong bài này rằng Thương mại điện tử là việc áp dụng một hay nhiều khâu trong các hoạt động thương mại dựa trên các công cụ điện tử, cụ thể là Internet và WWW, các khâu đó có thể là marketing, trưng bày thông tin, giao dịch trao đổi qua email v.v...

Thương mại điện tử có thể được chia ra làm 3 loại sau B2B, B2C, và P2P (có thể có những cách chia khác). B2B có nghĩa là giao dịch Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp (DN) và DN (business-to-business). B2C là giao dịch Thương mại điện tử giữa DN và cá nhân người tiêu dùng (business-to-consumer). P2P là giao dịch Thương mại điện tử giữa các cá nhân với nhau (Peer-to-Peer).

B2B: Các DN dùng mạng Internet, WWW (website) để trao đổi thông tin mua bán, tìm kiếm khách hàng, trưng bày sản phẩm, thậm chí cho phép đấu giá cung cấp hàng hóa, đấu thầu trên mạng v.v...

B2C: Các DN trưng bày thông tin, sản phẩm, dịch vụ trên mạng để quảng bá đến với các cá nhân tiêu dùng, dùng mạng Internet để phục vụ các cá nhân tiêu dùng như cho phép họ thực hiện việc mua hàng, trả tiền qua mạng, trả lời mọi câu hỏi của khách hàng v.v...

P2P: Một website được một DN xây dựng nhằm mục đích tạo “sân chơi” cho các cá nhân có nhu cầu trao đổi thông tin, mua, bán với nhau. Ví dụ cụ thể là http://www.ebay.com/ là website đấu giá trực tuyến nổi tiếng dạng P2P.

Tóm lại, có thể nói như sau:
. Đối với DN: Thương mại điện tử hiện nay hỗ trợ DN rất tốt trong việc marketing và tìm kiếm cơ hội kinh doanh, nhất là trên thị trường quốc tế. Tương lai không xa, Thương mại điện tử sẽ giúp DN tiết kiệm nhiều chi phí hoạt động vì đa số các hoạt động kinh doanh đều được hệ thống CNTT quản lý.
. Đối với cá nhân hay cộng đồng: Thương mại điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho cá nhân như:
- Quyền chọn lựa dịch vụ, sản phẩm để có thể an tâm khi mua (vì Thương mại điện tử buộc các DN phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả, dịch vụ nên cuối cùng là người tiêu dùng có lợi)
- Truy cập nguồn thông tin, kiến thức phong phú, bổ ích
- Được hưởng lợi ích từ cộng đồng trực tuyến – như những người bạn “ảo” sẵn sàng giúp nhau khi một ai đó có nhu cầu cần được hỗ trợ
- Đối với quốc gia: Thương mại điện tử sẽ góp phần rất lớn vào việc phát triển nền kinh tế quốc gia, phục vụ lợi ích cộng đồng (chủ yếu là thông tin, kiến thức, dịch vụ) để giúp Việt Nam nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, sớm sánh vai cùng các nước trong khu vực.

. Các DNVVN VN nên suy nghĩ về việc áp dụng Thương mại điện tử để làm tăng lợi thế cạnh tranh của mình, trước thềm những thay đổi to lớn về môi trường kinh doanh như việc VN sắp gia nhập WTO, sắp chính thức gia nhập AFTA. Nếu không thay đổi, không tiến bộ, có nghĩa là DN sẽ phải ra khỏi cuộc chơi.

Thạc Sĩ Dương Tố Dung
Read more...

Cloud

Design Stock (2) Kiến Thức Web (12) SEO (4) Thuật Ngữ Web (12) Thương Mại Điện Tử (4)